TRUYÊN TRUYỀN PHÒNG BỆNH ĐỢT 2 CHO TRẺ

Thứ ba - 28/11/2017 00:06
Được sự chỉ đạo của chuyên môn nhân viên y tế thực hiện công tác tuyên truyền một số dịch bênh cho trẻ tới tất cả các bậc phụ huynh trong nhà trường để giúp trẻ phòng chống dịch bênh và luôn có sức khỏe tốt để đến trường nhằm tăng tỷ lệ chuyên cần và tham gia các hoạt động cùng cô cùng bạn,... Sau khi phối hợp với Trạm y tế Thị trấn tổ chức khám sức khỏe lần 1 cho 421 trẻ trong toàn trường với kết quả có 14 trẻ suy dinh dưỡng, 4 trẻ béo phì, 104 trẻ bị sâu răng. Tôi đã phối hợp với giáo viên tuyên truyền kết quả của trẻ tới các bậc phụ huynh; Bên cạnh đó tôi đã chuẩn bị các nội dung cụ thể về tuyên truyền với phụ huynh của những trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì, những trẻ bị sâu răng để giúp trẻ có chế độ ăn uống, tập luyện,...phù hợp giúp trẻ phát triển khỏe mạnh, cân đối và giảm tỷ lệ sâu răng ở lần khám sau.
BÀI 1: TUYÊN TRUYỀN THỪA CÂN ( BÉO PHÌ) - CÁCH PHÒNG TRÁNH
                                                  
I. Khái niệm chung :
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn than đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe.
II. Nguyên nhân trẻ béo phì :
-Di truyền : nếu bố mẹ mắc bệnh béo phì thì con cái họ sẽ có khả năng ảnh hưởng mắc bệnh gấp 4-8 lần so với người bình thường.
-Sai lầm trong cách chăm sóc chế độ dinh dưỡng của trẻ : cho trẻ ăn quá nhiều chất béo,đồ ăn nhanh,nước soda,ăn quá nhiều thức ăn trong ngày khiến dư thừa calo, ăn vặt nhiều….
- Trẻ lười vận động ,ham thích trò chơi điện tử,xem tivi.
-Do ảnh hưởng của tâm lý : Những trẻ bị trầm cảm,stress, có nguy cơ mắc bệnh bép phì cao hơn các trẻ bình thường.
III. Hậu quả của Thừa cân, béo phì :                                    
- Tăng tỷ lệ mắc bệnh
- Ảnh hưởng về mặt tâm lý , xã hội ( mặc cảm, xấu hổ )
-Nguy cơ mắc bệnh tim mạch ,tiểu đường.
-Biến chứng về gan,biến chứng về giải phẫu ( dị dang xương )
IV. Cách phòng tránh :
-Loại bỏ đồ ăn vặt,thức ăn nhanh               
- Kiểm tra nguyên liệu
- Tập thể dục cùng trẻ
- Thêm rau xanh vào thực đơn
-Hạn chế thời gian xem tivi
- Ăn đúng bữa
-Khuyến khích trẻ hoạt động
-Gỉam dần khẩu phần ăn
BÀI 2: TUYÊN TRUYỀN SUY DINH DƯỠNG - CÁCH PHÒNG TRÁNH
INguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em:
 - Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới suy dinh dưỡng ở trẻ em.Nguyên nhân chủ yếu ở các vùng nông thôn là từ việc nuôi dưỡng kém hoặc mẹ thiếu sữa,phải nuôi sữa ngoài nhưng không đủ điều kiện kinh tế để cung cấp đầy đủ chất cho con… Một nguyên nhân khác xuất phát từ việc kém hiểu biết về dinh dưỡng cho trẻ của các mẹ là cho trẻ ăn dặm quá sớm (dưới 4 tháng tuổi),cai sữa cho trẻ quá sớm ( dưới 1 năm) mà không được bổ sung sự thiếu hụt từ sữa mẹ sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng.Đôi khi những hiểu biết sai lệch dẫn đến tình trạng kiêng khem,bắt trẻ ăn cháo muối hoặc ăn bột ,ăn cháo với nước mắm, mì chính kéo dài trong và sau đợt tiêu chảy của bà mẹ củng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ. Ngoài ra phải kể đến những bệnh nhiễm khuẩn như sởi ,ho gà , viêm phổi, lao,hội chứng lỵ làm cơ thể trẻ suy yếu,biếng ăn,rối loạn tiêu hóa kéo dài củng làm trẻ bị suy dinh dưỡng.
IICách nhận biết trẻ suy dinh dưỡng:
Triệu chứng dễ nhận biết là trẻ có biểu hiện biếng ăn ,ăn ít,chậm tăng cân,đứng cân hoặc sụt cân.Ngoài ra trẻ còn dễ mắc các bệnh đường hô hấp ,tiêu chảy…nếu trẻ bị suy dinh dưỡng thường da xanh,trẻ hay buồn bực ,quấy khóc ít vui chơi,kém linh hoạt ,các bắp thịt mềm nhão.Đặc biệt trẻ suy dinh dưỡng thường chậm phát triển vận động : chậm biết bò,ngồi...                                      III. Để tránh suy dinh dưỡng ở trẻ em các bậc phụ huynh cần :
- Chăm sóc ăn uống cho phụ nữ có thai để đạt mức tăng cân 10 – 12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.
- Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sua khi sinh,bú hoàn toàn sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.
- Cho trẻ ăn bổ sung ( ăn dặm ) từ tháng thứ 5. Tăng thêm chất béo ( dầu, mở, lạc, vừng ) ăn nhiều bữa.
- Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng .Phụ nữ có thai uống viên sắt / acid folic hàng ngày. Trẻ em 6- 36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần / năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn ( tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.
 - Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC ( vườn ,ao, chuồng) để có thêm thực phẩm cải thiện bữa ăn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt  đẻ trứn,trồg rau ngót,đu đủ,gấc.
 - Phấn đấu bữa ăn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm ( cung cấp năng lượng) cần có đủ 3 món nữa là : rau quả ( cung cấp vitamin,chất khoáng ,chất xơ) ,đậu phụ ,vừng lạc,cá ,thịt,trứng (cung cấp chất đạm,béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng.
 - Động viên trẻ ăn mỗi bữa và uống thêm sữa mỗi ngày.
 - Thực hiện vệ sinh môi trường,dùng nguồn nước sạch ,tẩy giun định kỳ, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ăn không là nguồn lây bệnh.
 - Theo dõi định kỳ cân nặng,chiều cao của trẻ.

BÀI 3 : TUYÊN TRUYỀN VỀ BỆNH SÂU RĂNG Ở TRẺ EM

* Sâu răng là sự tiêu hủy chất vôi của men răng và ngà răng do vi khuẩn gây ra. Bệnh gây tổn thương thành lỗ sâu, làm gãy răng, sứt mẻ răng,nhiễm khuẩn phần mềm quanh răng…Đầu tiên là sâu răng men ,sau đó là ngà răng rồi tủy răng, làm cho răng bị hỏng. Bệnh nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ gây nên biến chứng tại chỗ và toàn thân, ảnh hưởng đến chức năng cũng như thẩm mỹ của khuôn mặt sau này
* Nguyên nhân:
- Có 3 yếu tố gây bệnh sâu răng là: vi khuẩn, chất đường và thời gian mà vi khuẩn và chất đường bám dính ở răng. Thời gian vi khuẩn ở trong miệng 20 phút đến 1h sau khi ăn.
- Những người ăn nhiều tinh bột, ăn ít các loại đường có mức sâu răng thấp. Trái lại những người ăn ít tinh bột, nhưng ăn nhiều đường bị sâu răng nhiều hơn.
- Các loại thuốc dùng cho trẻ em như kháng sinh, vitamin, xiro ho… chứa một lượng đường lớn, vì vậy chúng có thể gây tăng tốc độ sâu răng.
- Trẻ em còn có sâu răng do bú bình: thói quen của 1 số gia đình cho con bú lúc đi ngủ, cho trẻ ngậm bình trong khi ngủ để giải quyết tình trạng trẻ quấy khóc  ban đêm.
* Triệu chứng:
- Sâu răng trên răng sữa thường khởi đầu ở các hố và rãnh. Các tổn thương nhỏ khó có thêt phát hiện bằng mắt thường, b\nhưng các tổn thương lớn có biểu hiện lỗ thủng ở mặt nhai.
- Vị trí sâu răng thường gặp đứng hàng thứ 2 là ở mặt bên ( tiếp xúc ở các răng )
- Nếu không được điều trị , tình trạng sâu răng sẻ dẫn đến răng sâu bị hủy hoại toàn bộ và tổn thương đi vào tủy răng dẫn đến viêm tủy răng và gây đau nhức.
- Viêm tủy răng có thể tiến triển đến hoại tử vi khuẩn xâm lấn xương ổ răng, gây áp xe răng
  - Nhiễm trùng răng sữa có thể ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnh viễn.
  * Điều trị:
  - Tuổi của trẻ lúc bị sâu răng có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị răng.Trẻ em nhỏ hơn 3 tuổi không có khả nawg hợp tác khi thực hiện thủ thuật điều trị răng và thường đòi hỏi có các hỗ trợ như kìm giữ trẻ , gây tê hay gây mê trong lúc trám răng. Sau 4 tuổi , trẻ có khả năng đáp ứng với việc chữa răng với thuốc gây tê tại chỗ.
- Tình trạng nhiễm trùng răng còn khu trú trong xương ổ có thể được xử lý bằng các bien  pháp tại chỗ ( nhỗ răng, lấy toàn bộ tủy răng).
- Kháng sinh đường uống được chỉ định cho các trường hợp nhiễm trùng răng có viêm mô tế bào, sưng mặt hoặc trong trường hợp không thêt gây tê răng vì có viêm.
* Phòng bệnh :
- Biện pháp phòng chống sâu răng hiệu quả nhất là cho fluor tối ưu vào nước sử dụng.
- Trẻ em sống ở vùng có nguồn nước thiếu fluor có nguy cơ cao bi sâu răng và cần được dùng bổ tro chất fluor. Để tránh quá liều fluor , bác sĩ không kê đơn thuốc có số quá 120mg.
- Vệ sinh răng miệng : Đánh răng vào buổi sáng và buổi tối, nhất là với kem đánh răng có fluor, sẽ giúp ngăn ngừa sâu răng. Sau khi đánh răng xong phải súc miệng bằng nước sạch.
- Chế độ ăn uống: giảm số lần ăn các chất có đường phòng ngừa sâu răng. Vì vậy các bậc phụ huynh không nên cho trẻ dùng các thức uống ngọt hay dùng chất ngọt vào ban đêm, đối với trẻ có nguy cơ cao bị sâu răng cần tránh cho dùng các loại bánh cùng lúc vì dễ rạn nứt men răng.
- Trám bít hố rãnh: Trám bít hố rãnh bằng resin được ghi nhận là có hiệu quả phòng ngừa sâu răng ở các răng cối sữa và răng cối vĩnh viễn.

Tác giả bài viết: mntt

Nguồn tin: Y tế trường MNTT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Các bài viết mới hơn

Các bài viết khác